Rối Loạn Lipid Máu Ở Bệnh Nhân Đái Tháo Đường - Nguy Cơ Tử Vong Do Đột Quỵ Và Các Biến Cố Tim Mạch

1. Bệnh đái đường – Tình hình dịch tễ

Bệnh đái tháo đường là một nhóm bệnh rối loạn chuyển hoá, biểu hiện bởi tình trạng tăng đường huyết do hậu quả của sự thiếu insulin tương đối hoặc tuyệt đối. Tình trạng tăng đường huyết về lâu dài sẽ gây ra nhiều rối loạn chức năng ở các cơ quan, đặc biệt là các mạch máu lớn và mạch máu nhỏ.

Hiện nay tỉ lệ bệnh đái tháo đường đang gia tăng trên toàn thế giới và đang là vấn nạn cho ngành y tế toàn cầu. Theo ước tính của Tổ chức y tế thế giới, năm 2000 có khoảng 171 triệu người trên thế giới mắc bệnh đái tháo đường, chiếm 2,8% dân số và tính đến năm 2030 con số này sẽ gia tăng lên 552 triệu người, chiếm 4,4% dân số. Tại Hoa Kỳ, năm 2002 có khoảng 17 triệu người mắc bệnh đái tháo đường và mỗi năm có khoảng 200.000 người chết vì biến chứng của bệnh. Năm 2010 số người mắc bệnh đái tháo đường tại Hoa Kỳ tăng lên đến 26 triệu người, và có khoảng 7 triệu người vẫn còn chưa được chẩn đoán, 57 triệu người có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường. Riêng tại Bắc Mỹ trong vòng 20 năm qua tỉ lệ bệnh đái tháo đường cũng gia tăng nhanh chóng. Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam cũng gia tăng nhanh chóng phù hợp với tình hình chung của thế giới.

 

Rối loạn lipid máu rất thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, có thể xảy ra trước khi có đái tháo đường hoặc khi đã có đái tháo đường. Rối loạn lipid máu gây xơ vữa mạch máu, hầu hết các nghiên cứu cho thấy rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ và bệnh lý tim mạch. Vậy nguy cơ rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường quan trọng như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ nói rõ hơn về vấn đề này.

  1. Rối loạn Lipid máu là gì?

Rối loạn Lipid máu, từ dân gian còn gọi là mỡ trong máu cao được  đặc trưng bởi tình trạng tăng cholesterol trong máu bao gồm: tăng cholesterol toàn phần, tăng triglycerid, tăng LDL-cholesterol và giảm HDL-cholesterol. Cholesterol, triglycerid, LDL-c là loại cholesterol xấu, là thủ phạm gây xơ vữa mạch máu; ngược lại HDL-c là loại Cholesterol tốt có tác dụng bảo vệ tim mạch, vì vậy giảm HDL-c có tác dụng xấu cho tim mạch. Cholesterol là một dạng chất béo được sản xuất từ tế bào gan và một phần được hấp thu từ thức ăn. Cholesterol rất cần thiết để cấu tạo màng tế bào, cân bằng hormon trong cơ thể và sản xuất vitamin. Tuy nhiên khi dư thừa choslesterol trong máu sẽ gây xơ vữa mạch máu, làm gia tăng nguy cơ tử vong do  bệnh mạch vành và đột quỵ.

Rối loạn lipid máu có thể gặp ở bệnh nhân tăng HA, béo phì, hội chứng chuyển hoá, đái tháo đường, ...Khi lượng cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-c tăng cao, tạo điều kiện cho sự lắng đọng trong các thành mạch, nội mạc mạch máu bị tổn thương, lâu dần tiến triển thành mảng xơ vữa khiến mạch máu trở nên xơ cứng và lòng mạch máu hẹp dần lại. Tuần hoàn máu qua chỗ hẹp bị cản trở, nếu mảng xơ vữa lớn có thể gây tắc nghẽn lòng mạch. Nếu động mạch cung cấp máu cho tim bị tắc nghẽn sẽ xuất hiện cơn đau ngực, nhồi máu cơ tim, thậm chí đột tử; nếu động mạch cung cấp máu cho não bị tắc sẽ dẫn đến đột quỵ, hôn mê, liệt nửa người; nếu động mạch cung cấp máu ở chi bị tổn thương thì sẽ dẫn đến viêm tắc động mạch chi và có thể gây hoại tử chi…

   Trị số cholesterol máu bình thường:

  1. Rối loạn lipid máu ở bệnh nhânđái tháo đường

    Các nghiên cứu cho thấy rối loạn lipid máu ở bệnh nhânđái tháo đường làm tăng nguy cơ xơ vữa mạch máu, gây nhồi máu cơ tim và đột quỵ.Theo trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật ở Hoa Kỳ cho thấy có khoảng 70%đến 90% bệnh nhân đái tháo đường típ 2 có rối loạn lipid máu,  thường gặp là giảm HDLc, tăng Triglycerid,tăng cholesterol, tăng LDL nhỏ đậm đặc, còn nồng độ LDL-c thường không khácbiệt so với người không có đái tháo đường. Thông thường HDLc giảm khoảng 10 –20% và tăng Triglycerid gấp 1,5 – 3 lần so với người không đái tháo đường. Cácnghiên cứu cho thấy tăng LDL-c làm tăng nguy cơ đột quỵ, bệnh tim mạch và bệnhmạch máu ngoại biên, còn giảm HDL-c làm tăng nguy cơ bệnh mạch vành, nhồi máucơ tim, ngoài ra mức triglycerid tăng quá cao còn có thể nguy cơ gây viêm tuỵcấp.

    Bệnh đái tháo đường nếu không được điều trị sẽ gâyra các biến chứng mạch máu bao gồm biến chứng mạch máu lớn (nhồi máu cơ tim,đột quỵ, hoại tử chi) và biến chứng mạch máu nhỏ (suy thận mạn, mù loà, giảmtình dục, loét chân...). các biến chứng mạch máu này càng gia tăng nếu có hiệndiện rối loạn lipid máu. Rối loạn lipid máu làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch từ 2– 4 lần, trong thử nghiệm can thiệp đa yếu tố nguy cơ (Multiple Risk FactorIntervention Trial) cho thấy tăng cholesterol toàn phần,  hút thuốc lá, tăng HA là yếu tố nguy cơ cho bệnh tim mạch nơi người đái tháo đường hoặc không đái tháo đường. Người đái tháo đường bị tổn thương mạch máu nhiều gấp 10 lần so với người không có đái tháo đường. Phần lớn các tổn thương mạch máu trong bệnh đái tháo đường là hậu quả của rối loạn lipid máu, nếu không được điều trị các tổn thương mạch máu sẽ diễn tiến xấu dần, xơ cứng và tắc hẹp dẫn đến các biến cố về tim mạch.

    Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường làm tăng nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch.

     

    Rối loạn lipid máu ở bênh nhân đái tháo đường làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ.

    Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường làm tăng nguy cơ tử vong do đột quỵ;  tần suất đột quỵ ở người đái tháo đường cao hơn người không đái tháo đường gấp 2 – 6 lần, tương tự như ở nhiều chủng tộc khác, chiếm tỉ lệ 9% theo 1 báo cáo Ủy ban điều tra sức khoẻ Quốc gia (National Health Interview Survey). Qua 2 nghiên cứu Nurse Health Study và Honolulu Heart Program, tác giả Harris ghi nhận tần suất đột quỵ ở nữ cao hơn nam, tỉ lệ tử vong vào khoảng 65%. Các nghiên cứu trong và ngoài nước ghi nhận tần suất đột quỵ tại thời điểm bệnh đái tháo đường mới chẩn đoán là 5,6%. Ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2, nhồi máu não thường xảy ra hơn xuất huyết não và nặng hơn so với người không đái tháo đường.

    Các hình ảnh đột quỵ

  2. Các nguyên nhân gây rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường

    Ít vận động, béo phì, béo phì bụng

    Đái tháo đường bỏ trị, đường huyết, huyết áp kiểm soát kém

    Ăn uống quá dư thừa năng lượng, ăn nhiều mỡ bão hoà (mỡ động vật, các loại thịt đỏ, lòng đỏ trứng, đồ lòng các loại, da gà...)

    Hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia...

    Biện pháp điều trị: cần kiểm soát tốt tất các chỉ số liên quan

    Chế độ ăn uống hợp lý

    Tăng cường vận động thể lực: đi bộ ít nhất 30 phút/ngày hoặc 150 phút /tuần

    Giảm cân: đạt cân nặng lý tưởng, không béo phì (giữ BMI 18,5 – 22.9kg/m2) , không béo bụng  (vòng eo < 80 cm ở nữ và < 90 cm ở nam)

    Ngưng hút thuốc lá, bỏ rượu bia.

    Kiểm soát tốt mức đường huyết (HbA1c < 7%)

    Kiểm soát tốt huyết áp (HA < 130/80 mmHg)

    • Kiểm soát  mỡ máu đạt mục tiêu

    Mục tiêu kiểm soát lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường

    • CT < 5,17mmol/L (200mg/dL), TG < 1,7mmol/L (150mg/dL)

    • HDL > 1mmol/L (40mg/dL,nam), > 1,3mmol/L (50mg/dL,nữ)

    • LDLc < 2,6mmol/L (100mg/dL) và < 1,8mmol/L (70mg/dL) nếu có bệnh mạch vành.

    • Trong đó chiến lược dùng statin để đạt mục tiêu LDL được ưa chuộng nhất.

    Người bệnh đái tháo đường ngoài việc kiểm tra chỉ số HbA1c, đường huyết, huyết áp thường xuyên, cần kiểm tra định kỳ cholesterol máu để có biện pháp điều trị sớm, đưa các chỉ số kiểm soát trên về mục tiêu cũng như cân nặng, vòng eo, ngưng hút thuốc lá và uống rượu bia...(thuốc lá làm giảm HDL-c, làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch).

    Tuỳ theo các thành phần cholesterol trong máu gia tăng mà thầy thuốc lựa chọn các nhóm thuốc thích hợp như nhóm statin khi có tăng cholesterol, LDL-c hay nhóm fibrat khi có giảm HDL-c và tăng triglycerid. Bên cạnh viêc dùng thuốc hạ mỡ máu người bệnh cần phải tăng cường luyện tập thể lực đều đặn ít nhất 30 phút mỗi ngày hay 150 phút mỗi tuần (luyện tập thể lực đều đặn sẽ làm tăng HDL-c là yếu tố bảo vệ tim mạch, làm giảm triglycerid, giúp ổn định đường huyết, huyết áp...), chế độ ăn uống hợp lý, không dư thừa năng lượng để tránh béo phì, ăn ít chất béo bão hoà (mỡ động vật, dầu dừa, dầu cọ,.. sẽ làm tăng các loại cholesterol xấu), người bệnh có thể dùng các loại dầu oliu,  dầu mè, dầu hướng dương, dầu đậu nành...là các loại acid béo không bão hoà tốt cho cơ thể.

    1. Tầm soát rối loạn lipid máu ở bệnh nhân đái tháo đường

    Tất cả bệnh nhân đái tháo đường típ 2 tại thời điểm mới chẩn đoán nên phải được thử máu lúc đói để tầm soát cholesterol trong máu bao gồm các thành phần như đã nói trên: cholesterol, triglycerid, LDL, HDL, nếu bình thường nên lập lại mỗi năm, nếu có bất thường cần được điều trị sớm và kiểm tra lại ít nhát mỗi 4 – 6 tháng.

    Chẩn đoán rối loạn lipid máu theo hướng dẫn của chương trình giáo dục cholesterol quốc gia (NCEP - ATP III), khi có một trong các giá trị sau đây bất thường thì được chẩn đoán rối loạn lipid máu:

    • CT: ≥ 5,2mmol/l (≥ 200mg/dl)

    • TG: ≥ 2,3mmol/l (≥ 200mg/dl)

    • HDL-c: ≤ 1,2mmol/l (≤ 45mg/dl) đối với nữ và  ≤ 1mmol/l (≤ 35mg/dl) đối với nam

    • LDL-c: ≥ 3,4mmol/l (≥ 130mg/dl).

    1. Kết luận

    Rối loạn lipid máu rất thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường và là yếu tố nguy cơ gây xơ vữa mạch máu, làm tăng tỉ lệ tử vong do bệnh tim mạch và đột quỵ. Cần tầm soát mỡ máu và có biện pháp điều trị sớm, thích hợp. Ngoài việc kiểm soát mỡ máu cần phải kiểm soát tốt các chỉ số đường huyết, huyết áp, HbA1c,  cân nặng, vòng eo... đạt mục tiêu để giảm các biến chứng mạch máu, giảm tỉ lệ tử vong, giảm gánh nặng chi phí cho gia đình và xã hội.

    BS Nguyễn Thị Thu Thảo – TK Nội Tiết – Thận


Tin nổi bật

Tìm bác sĩ

Video