Tầm soát và phòng ngừa đột tử khi tập luyện thể dục thể thao

Chúng ta đều biết tập thể dục thể thao đều đặn giúp phòng ngừa nguy cơ tim mạch, giảm nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quị… bên cạnh rèn luyện sự dẻo dai và duy trì vóc dáng, tuy nhiên, trong một số trường hợp, đột tử có thể xảy ra khi luyện tập thể thao, đặc biệt ở vận động viên tập luyện với cường độ mạnh, bệnh nhân có bệnh lý tim mạch tiềm ẩn chưa biết, và người ít luyện tập thể thao trước đó. Như vậy, những đối tượng nào khi tập thể thao cần được tầm soát nguy cơ đột tử? Việc phòng ngừa đột tử khi luyện tập thể thao được thực hiện thế nào? Bài viết sau đây của Ths. Bs Huỳnh Trung Tín - Khoa Nội Tim mạch - Bệnh viện Nhân dân Gia Định sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về các vấn đề thời sự này.

Đột tử do tim là tình trạng tim suy chức năng đột ngột, không thể duy trì hoạt động bơm máu vào hệ tuần hoàn để nuôi dưỡng các cơ quan quan trọng trong cơ thể. Đột tử do tim có thể do một trong các nguyên nhân bất thường hoạt động điện học trong tim (nhịp tim bất thường), bất thường về cơ tim, van tim hay bất thường mạch máu nuôi tim. Nếu người bệnh có một trong những bất thường này, luyện tập thể thao với cường độ mạnh có thể thúc đẩy các bất thường diễn tiến nặng hơn một cách đột ngột, và nguy cơ đe doạ tính mạng. 

Tỷ lệ đột tử ở vận động viên rất hiếm, chỉ chiếm 1 trong 50.000 – 80.000 vận động viên chuyên nghiệp mỗi năm. Tỷ lệ này tuỳ thuộc vào cường độ vận động, tuổi và giới tính. Trong đó, giới nam chiếm tỷ lệ cao hơn 3-9 lần so với nữ giới, và tỷ lệ cap hơn ở người tập luyện với cường độ mạnh kéo dài hay vận động viên lớn tuổi có bệnh lý tim mạch. Mặc dù hiếm gặp, nhưng ngừng tim đột ngột trong khi tập luyện thể dục thể thao, đặc biệt ở những người trẻ tuổi, không chỉ ảnh hưởng đến gia đình mà còn tác động tâm lý hoang mang trong xã hội, bởi những người này hoàn toàn khoẻ mạnh trước đó.

Nguyên nhân đột tử ở người tập luyện thể dục thể thao

Theo một khảo sát nhận thấy rằng nguyên nhân thường gặp nhất ngừng tim đột ngột ở những vận động viên trẻ tuổi (<35 tuổi) bao gồm: bệnh cơ tim phì đại, bất thường động mạch vành, bệnh lý rối loạn nhịp hay kênh ion (hội chứng QT dài, hội chứng Brugada, nhanh thất đa dạng nhạy catecholamin, hội chứng kích thích sớm), một số bệnh lý khác (như bệnh van tim, viêm cơ tim, bệnh cơ tim dãn nở, bệnh cơ tim loạn sản thất phải gây loạn nhịp), bệnh lý động mạch chủ di truyền (hội chứng Marfan). Trong khi đó, những vận động viên trên 35 tuổi, nguyên nhân bệnh mạch vành xơ vữa (80%) là thường gặp nhất. 

Ai là người cần tầm soát bệnh lý tim mạch trước khi luyện tập thể thao? 

Hầu hết những người trẻ tuổi, hay người có bệnh lý nền như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường đã được điều trị ổn định trước đó, hoàn toàn có thể tham gia luyện tập thể thao ở cường độ nhẹ đến trung bình mà không cần tầm soát các bệnh lý tim mạch tiềm ẩn. 

Tuy nhiên, ở những người có bệnh lý phức tạp hơn như có nhồi máu cơ tim trước đây, đã được đặt stent mạch vành, đã mổ tạo cầu nối động mạch vành, có suy chức năng tim, có các bệnh cơ tim, hẹp van tim hay hở van tim, bất thường nhịp tim, tốt nhất nên được khám và đánh giá bệnh tim mạch bởi các bác sĩ chuyên khoa, đặc biệt nếu người bệnh muốn luyện tập thể thao cường độ trung bình hay nặng. 

Nhìn chung, 3 nhóm đối tượng người luyện tập thể thao cần tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên khoa tim mạch: 

(1) Người ít vận động hay người có nguy cơ cao các bệnh tim mạch (béo phì, đái tháo đường, hội chứng chuyển hoá, tăng huyết áp chưa kiểm soát) muốn rèn luyện thể lực cường độ mạnh hay thi đấu các môn đối kháng (bóng rổ, bóng đá, cầu lông...)

(2) Người đã biết các bệnh tim nền (suy tim, bệnh mạch vành (thiếu máu cơ tim), bệnh cơ tim phì đại, bệnh van tim...)

(3) Người có bất thường thăm khám tim mạch (bất thường điện tâm đồ, siêu âm tim..) hay đang có các triệu chứng bệnh tim mạch (hồi hộp, đau ngực, khó thở bất thường, ngất...)

Để dễ hiểu, tập luyện thể dục cường độ mạnh là khi nhịp tim tăng lên hơn 75% nhịp tim tối đa dự đoán của người luyện tập (lấy 220 trừ đi tuổi) và chúng ta không thể nói chuyện, thậm chí là giao tiếp vài từ trong khi luyện tập; còn luyện tập thể thao cường độ trung bình là khi nhịp tim tăng hơn 65% nhịp tim tối đa dự đoán và chúng ta vẫn có thể giao tiếp và nói chuyện với nhau bằng các câu ngắn khi đang luyện tập. 

Phòng ngừa đột tử ở những người tập luyện thể dục thể thao như thế nào?

Sau khi hỏi bệnh và khám lâm sàng,  bác sĩ sẽ đưa ra hướng dẫn về thể loại, cường độ và thời gian tập luyện phù hợp cho từng người.

Tuỳ theo tình trạng của bạn, bác sĩ tim mạch sẽ chỉ định cho bạn thực hiện thêm một vài xét nghiệm: 

• Điện tâm đồ: ghi nhận hoạt động tạo nhịp của tim và dẫn truyền nhịp trong tim, giúp phát hiện các bất thường về nhịp tim, hay phản ánh các bệnh cơ tim, bệnh mạch vành mà có thể có 

• Nghiệm pháp gắng sức thể lực: bạn sẽ vừa đi bộ trên thảm lăn và vừa được theo dõi điện tâm đồ, đây là xét nghiệm giúp bộc lộ nhiều bất thường tim mạch chỉ xảy ra khi gắng sức hay luyện tập thể thao 

• Siêu âm tim: đây là xét nghiệm giúp bác sĩ nhìn thấy hoạt động co bóp của tim, các bệnh lý hẹp van tim hay hở van tim, các bệnh lý cơ tim, suy tim…

• Các xét nghiệm hình ảnh tim mạch và nhịp tim chuyên sâu khác: tuỳ theo bất thường các xét nghiệm ban đầu và tình huống của bạn mà bác sĩ có thể cho thực hiện thêm để làm rõ chẩn đoán bệnh tim mạch, như chụp cắt lớp động mạch vành, chụp cộng hưởng từ tim, máy theo dõi nhịp tim 24 giờ/48 giờ… 

Tóm lại, luyện tập thể thao đóng vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống, nhưng một số người có bệnh lý tim mạch nền cần được đánh giá cẩn thận bởi bác sĩ chuyên khoa tim mạch trước khi tham gia luyện tập thể thao ở cường độ trung bình hay nặng, nhằm tránh nguy cơ thúc đẩy các bất thường tim mạch nặng lên đột ngột trong quá trình luyện tập. Nếu còn bất cứ nghi ngờ gì về khả năng gắng sức, hay có triệu chứng tim mạch bất thường khi luyện tập thể thao, đừng ngại tham khảo ý kiến chuyên gia tim mạch.  


Tin nổi bật

Tìm bác sĩ

Video