BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH: TRIỂN KHAI ỨNG DỤNG SIÊU ÂM ĐO THỂ TÍCH DẠ DÀY TRƯỚC GÂY MÊ – THÊM MỘT “LỚP AN TOÀN” VÀ NỀN TẢNG ĐỂ TRIỂN KHAI ERAS MẠNH MẼ HƠN
BS CKII Huỳnh Văn Bình Khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Nhân dân Gia Định
Trong gây mê hồi sức, một trong những biến cố nghiêm trọng nhất là hít sặc dịch dạ dày trong quá trình khởi mê/đặt ống nội khí quản, có thể dẫn đến viêm phổi hít, suy hô hấp và làm nặng thêm tiên lượng sau mổ. Vì vậy, kiểm soát “dạ dày có thực sự trống hay không” là yếu tố then chốt để nâng chuẩn an toàn gây mê, đặc biệt trong bối cảnh ngày càng nhiều người bệnh có nguy cơ chậm làm trống dạ dày dù đã nhịn ăn đúng hướng dẫn.

Từ thực tiễn đó, Bệnh viện Nhân dân Gia Định đã nghiên cứu và triển khai kỹ thuật siêu âm đo thể tích dạ dày để đánh giá tồn lưu trước phẫu thuật. Đây là kỹ thuật không xâm lấn, cơ động, thực hiện ngay tại giường/phòng mổ, giúp bác sĩ gây mê hồi sức có thêm dữ liệu khách quan để ra quyết định trước khi gây mê, thay vì chỉ dựa vào thời gian nhịn ăn. Giá trị của siêu âm dạ dày đã được ghi nhận với độ nhạy cao (91– 100%) và độ đặc hiệu (71–97,5%) tuỳ nghiên cứu.
Điểm đặc biệt quan trọng là: kỹ thuật này không chỉ tăng an toàn gây mê theo nghĩa truyền thống, mà còn trở thành nền tảng an toàn để bệnh viện triển khai chiến lược ERAS, trong đó có uống carbohydrate trước phẫu thuật nhằm giảm khó chịu trước mổ, giảm đáp ứng stress, hỗ trợ phục hồi sớm sau mổ. ERAS cần “đẩy nhanh hồi phục”, nhưng bắt buộc “không đánh đổi an toàn”; và siêu âm dạ dày chính là công cụ giúp bệnh viện làm được cả hai theo hướng cá thể hoá.
Về chỉ định, bệnh viện ưu tiên siêu âm dạ dày cho người bệnh có nguy cơ dạ dày đầy hoặc nghi ngờ dạ dày đầy, điển hình như: chậm làm trống dạ dày do chuyển hoá (đái tháo đường kiểm soát kém), suy thận, nhiễm khuẩn huyết; giảm nhu động (chấn thương sọ não); bệnh lý dạ dày–môn vị, trào ngược; tăng áp lực ổ bụng (mang thai, béo phì); dùng opioid; chấn thương; nhịn ăn/uống chưa đủ hoặc trường hợp phẫu thuật cấp cứu không tối khẩn. Chống chỉ định quan trọng là tiền căn phẫu thuật dạ dày.
Quy trình triển khai được chuẩn hoá chặt chẽ: thực hiện tại phòng mổ/Khoa Gây mê Hồi sức, thời gian khoảng 30 phút, do 01 bác sĩ gây mê hồi sức đã được đào tạo siêu âm cơ bản và siêu âm dạ dày cùng 01 điều dưỡng phụ, sử dụng máy siêu âm với đầu dò convex. Người bệnh được hướng dẫn trước thủ thuật, kiểm tra hồ sơ – nhận diện đúng người bệnh – và thực hiện bảng kiểm an toàn theo quy định.

Về kỹ thuật, bác sĩ khảo sát hang vị dạ dày ở tư thế chuẩn (thường là nằm nghiêng phải, đầu cao 30–45°) để tối ưu đánh giá. Sau khi xác định mặt cắt phù hợp, bác sĩ đo các đường kính của hang vị và tính diện tích hang vị (CSA) theo công thức, từ đó ước tính thể tích dạ dày (GV) theo mô hình chuẩn hoá (có hiệu chỉnh theo tuổi).
Điều làm nên “giá trị ra quyết định” của kỹ thuật là bệnh viện đã quy định rõ tiêu chuẩn nhận diện dạ dày đầy – tức nguy cơ hít sặc cao hơn – khi có một trong các dấu hiệu: phát hiện thức ăn đặc ở bất kỳ tư thế; hoặc thể tích dạ dày ở tư thế nghiêng phải > 1,5 mL/kg; hoặc trong trường hợp chỉ thực hiện được tư thế nằm ngửa thì CSA > 3,40 cm². Nhờ các ngưỡng rõ ràng này, ê-kíp gây mê có thể lựa chọn chiến lược phù hợp cho từng người bệnh ngay trước cuộc mổ, và ghi nhận kết quả vào hồ sơ bệnh án để tăng tính minh bạch, truy xuất và cải tiến chất lượng liên tục.
Trên nền tảng đó, khi triển khai ERAS, đặc biệt là uống carbohydrate trước phẫu thuật, bệnh viện có thể đi theo hướng vừa chủ động vừa thận trọng: đa số người bệnh đủ điều kiện sẽ được hưởng lợi ích hồi phục sớm; còn nhóm nguy cơ chậm làm trống dạ dày sẽ được đánh giá khách quan bằng siêu âm để quyết định cá thể hoá, nhằm giữ vững chuẩn an toàn đường thở trong gây mê. Nói cách khác, carbohydrate là “động lực hồi phục” của ERAS, còn siêu âm dạ dày là “van an toàn” của gây mê hiện đại.
Việc đưa siêu âm dạ dày vào thực hành thường quy thể hiện rõ định hướng của Bệnh viện Nhân dân Gia Định: đầu tư công nghệ đúng trọng điểm, chuẩn hoá quy trình, đào tạo nhân lực và lấy an toàn người bệnh làm trung tâm, đồng thời tạo nền tảng để triển khai ERAS bài bản, nhất quán và hiệu quả hơn trong mục tiêu chung: phẫu thuật an toàn hơn – ít biến chứng hơn – hồi phục nhanh hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Lý Huyển Hoà, Nguyễn Thị Quý. Đánh giá thể tích tồn lưu dạ dày của dung dịch maltodextrine uống 2 giờ trước gây mê. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2020;24(3):76-82.
2. Đỗ Nguyễn Trọng Nhân, Nguyễn Thị Thanh. Đánh giá thể tích tồn lưu dạ dày của dung dịch maltodextrine 25% uống 2 giờ trước gây mê. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2020;24(3):119-126
3. Phan Quốc Thái, Doanh Đức Long, Hoàng Quốc Thắng. Siêu âm đánh giá thể tích dạ dày ở người bệnh phẫu thuật chấn thương cấp cứu. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2024;27(3):103-108
4. Nguyễn Thanh Tân, Nguyễn Thị Phương Dung, Hoàng Quốc Thắng. Đánh giá thể tích tồn lưu dạ dày ở người bệnh đái tháo đường sau uống nước trong 2 giờ trước mổ. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2025;28(3):88-94.
